Tư Cách Mõ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (60.69 KB, 3 trang )


Bạn đang xem: Tư cách mõ

Nam Cao (1915-1951) mặc dù xuất hiện muộn trên văn đàn nhưng ông cũng nhanh chóng để lại dấu ấn bằng những tácphẩm mang tính nhân văn sâu sắc. Qua các tác phẩm tiêu biểu như: Chí Phèo, Sống Mòn, Lão Hạc, Một Bữa No, TưCách Mõ,…bạn đọc dễ dàng nhận thấy ở Nam Cao một nhà văn của những nhân vật thấp cổ bé họng, đói khổ, thậm chíbị tha hóa chỉ vì miếng ăn.Song, trên hết vẫn là một tấm lòng vị tha nhân hậu, đau đớn trước những số phận con người chẳng những mòn mỏi vềtâm hồn mà đôi khi còn không giữ nổi phẩm giá của mình chỉ vì miếng cơm manh áo. Đặc điểm đó cho thấy một tinhthần nhân đạo, nhân văn sâu sắc trong tư tưởng của Nam Cao.Tinh thần nhân bản, nhân đạo chủ nghĩa trong sáng tác cuả Nam Cao thể hiện đậm nét qua hai tác phẩm Tư CáchMõ vàMột Bữa No.Chủ đề về miếng ăn luôn chiếm vị trí hàng đầu trong sáng tác của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám. Sở dĩ như thếlà do cái lúc nào cũng là nỗi ám ảnh trong tư tưởng ông. Dù là người trí thức như Thứ trong Sống Mòn, Hộ trong ĐờiThừa,Điền trong Trăng Sáng, hay những người bình dân như Người Bà trong Một Bữa No, Lộ trong Tư Cách Mõ, LãoHạc trong tác phẩm cùng tên đều không thoát khỏi những lo toan tủn mủn về miếng ăn. Miếng ăn đã trở thành nỗi ghê sợtrong sáng tác của Nam Cao. Như ta đã biết Nam Cao vốn là một thầy giáo nghèo, cuộc sống bấp bênh, đói khát luôn lànỗi lo thường trực và luôn là nỗi ám ảnh trong tâm hồn ông. Vì thế nỗi sợ hãi về thiếu đói luôn thường trực trong tâm trícủa ông.Nỗi ám ảnh về miếng cơm manh áo một phần còn do chế độ xã hội đương thời gây nên. Xã hội Việt Nam trước cáchmạng tháng Tám là một xã hội thối nát, mục rỗng. Bọn thực dân phong kiến như một lũ đỉa khát máu, chúng thay phiênnhau hút máu dân đen, làm cho cuộc sống của họ dần kiệt quệ vì thế đói khát luôn là nỗi ám ảnh thường trực. Với tâmhồn nhạy cảm cùng với những xúc cảm tình cảm mãnh liệt, Nam Cao đã tái hiện lại một cách sống động nỗi cùng khổcủa nhân dân ta trước cách mạng. Có thể nói nhân vật Người Bà trong Một Bữa No, và anhLộ trong Tư Cách Mõ là hainhân vật điển hình cho những sáng tác của Nam Cao về chủ đề miếng ăn.Trong Một Bữa No ta thấy Nam Cao đã xây dựng nhân vậtNgười Bà luôn gặp những vận rủi trong cuộc sống. Sớm góabụa, một mình gà mái nuôi con, nhưng niềm hi vọng duy nhất cũng sớm tắt liệm. Đứa con mà bấy lâu nay bà đã thắtlưng buộc bụng chăm lo cho nó nhưng chưa được nhờ cậy gì nó đã vội ra đi bỏ bà bơ vơ. Sự cùng cực đến thế thì thôi!Nhưng dường như định mệnh vẫn chưa buông tha bà, đứa con dâu bất nhân chồng chết vừa mới xong tang, nó vội đi lấychồng ngay,để lại cho bà đứa cháu nội vừa tròn năm tuổi, thế là bà lại phải gồng gánh nuôi đứa cháu dại. Thời gian dầntrôi, đứa cháu giờ đã khôn lớn và đã biết đi ở mướn giúp bà vơi bớt nỗi cơ cực. Số vào món tiền mọn từ công đi ở củađứa cháu bà dùng làm vốn đi buôn sống đắp đỗi qua ngày. Buôn gánh bán bưng, đi ngược về xuôi suốt ngày cũng chỉ đủăn chứ chẳng tích cóp, giành dụm được gì. Cuộc sống ấm no chẳng được bao lâu thì bà lại lâm bệnh, số vốn ít ỏi của bàtheo cơn bạo bệnh mà biến mất, bà chỉ còn hai bàn tay trắng với một thân xác gầy mòn ốm yếu. Không còn sức lực, tiền
của cũng hết bà đành mang tấm thân mệt nhọc của mình đi ở đợ để tìm hai bữa cơm. Thời gian đầu còn có người chịumướn, nhưng vì tuổi cao, sức yếu nên bà không kham nỗi công việc. Vì thế cho nên: Không đầy một năm trời bà thayđổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng nămhào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào.Thế rồi bà thất nghiệp, nhờ vào năm đồngtiền thương hại mà người chủ cuối cùng cho bà, bà sống lây lất qua ngày. Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc.Mới đầu, còn được ngày ba tấm. sau cùng thì một tấm cũng không có nữa. Đến nước này bà đành lê tấm thân tàn tạ củamình ra chợ xin ăn. Mới đầu mọi người còn thương hại cho bà ăn, nhưng lòng thương của thiên hạ cũng có giới hạn. Dầndà bà không còn xin được nữa, và điều không nên xảy ra đã xuất hiện, không còn cách nào kiếm được miếng ăn bà đànhôm bụng nhịn đói.Ông bà ta nói “cái khó ló cái khôn”. Trong lúc cùng quẫn nhất, tuyệt vọng nhất bà chợt nhớ mình còn đứa cháu.Nhưbuồn ngủ gặp chiếu manh, bà hồ hởi ra đi. Tuổi già sức yếu, lại nhịn đói mấy hôm rày nên cuộc hành trình của bà vôcùng khó nhọc. Tuy nhiên nghĩ đến miếng ăn, được ăn nên bà phải cố gắng. Đúng là không gì đáng sợ hơn cái đói! Cáiđói có thể làm biến chất, hủy hoại nhân cách con người. Chính vì đói mà bà Cái Đĩ trong lúc sức tàn lực kiệt cũng phải lêbước đi để tìm cái ăn. Mò mẫm mãi bà cũng đến được nhà bà phó Thụ nơi Cái Đĩ đang ở. Nhưng nhà giàu thì thườngcổng cao rào kín, lại lúc nào cũng có một bầy chó hộ pháp để giúp gia chủ được ăn ngon ngủ yên. Và nhà bà phó Thụcũng không ngoại lệ, để vào được nhà phải qua hai lần cổng, nhưng đáng ngại hơn là làm thế nào để qua mặt đượcnhững con chó hung tợn đang lăm lăm bộ nanh trực chờ đốp lấy con mồi. Không có cách nào vào được nhà, bà đànhngồi chờ vận may xem có người trong nhà đi ra hoặc có ai vào để vào theo. Cuối cùng bà cũng vào được nhà nhờ sự trợgiúp của bà phó Thụ.Thế rồi điều bà mong đợi đã đến. Bữa cơm dọn ra, bà cũng được mời cùng ăn. Nhưng vì nhịn đói lâu ngày, tay chân runrẩy, bà lống ngống như đứa trẻ mới tập cầm đũa, không làm sao gấp thức ăn được, làm đổ tháo cả ra mâm. Nóng tiếttrước sự vụng về của bà cái đĩ, bà phó Thụ ra lệnh: Sẻ riêng cho bà ấy một bát mắm, để ra cạnh mâm cho bà ấy. Mặc dùbị khinh bỉ, chì triết suốt bữa ăn nhưng bà vẫn không thấy xấu hổ và ăn một cách ngon lành. Trong khi mọi người đãnghỉ bà vẫn miệt mài ngồi ăn, ăn như chưa bao giờ được ăn! Bà tự an ủi mình: Đã ăn rình thì ăn ít cũng là ăn. Đằng nàocũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Dường như vì lâu quá không được ăn cơm (trước đó hơn ba tháng bà chỉ ăntoàn bánh đúc), nên bà ăn mãi vẫn không thấy no. Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì khí tiết. Vả đã điăn trực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Đã thế bàvẫn còn thấy tiết mấy hạt cơm còn xót lại trong nồi, thế là bà ăn nốt. Ừ, thì bà ăn nốt vây! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộnmắm. Bà rấm nốt.Sau bữa ăn huy hoàng, bà về nhà với cái bụng căng tròn đầy mệt nhọc. Có lẽ vì bà ăn quá nhiều, lại ăn mặn (ăn mắm)
nên bà uống rất nhiều nước mà vẫn còn thấy khát. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bàchỉ càng thêm tức bụng. Điều đó làm cho bà khó chịu vô cùng, bà đau bụng, bà thổ, bà tả,…kéo dài nữa tháng thì bàchết. Cái chết no nhưng hèn hạ, tủi nhục. Trong cơn đói khát hành hạ, bà không còn giữ được nhân phẩm, bà đã ăn mộtbữa ăn đầy tủi hờn, để rồi chết một cách nhục nhã. Bà vốn là một người nhân hậu, hiền lành nhưng định mệnh cuộc đờiđã cướp đi của bà quá nhiều khiến bà phải lâm vào hoàn cảnh bần cùng, đói khát. Bà đã không còn giữ được phẩm chấtcủa mình, bà đã bị cái đói làm cho tha hóa, biến chất. Người Bà Trong Một Bữa No chỉ là một cá nhân tiêu biểu trong sốrất nhiều con người cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự trong xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Họ vốn lànhững người lương thiện, nhưng sự hà khắt của chế độ phong kiến cùng với sự bốc lột của bọn thực dân đã đẩy họ vàocon đường tha hóa, bần tiện.Trong những sáng tác của Nam Cao trước cách mạng, hình tượng người nông dân hiền lành bị biến chất, tha hóa do sựtàn nhẫn, hà khắt của chế độ phong kiến là rất nhiều. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ khảo sát hai tác phẩm MộtBữa No vàTư Cách Mõ do đó những tác phẩm cùng đề tài khác chúng tôi chỉ đề cập đến chứ không đi sâu vào nội dung.Trên đây chúng tôi đã tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của Nam Cao qua tác phẩm Một Bữa No mà cụ thể là thông qua nhânvật người Bà. Tiếp theo đây chúng tôi sẽ khảo sát tác phẩm Tư Cách Mõ nhằm góp phần củng cố thêm cho cơ sở líthuyết nêu trên.Tư tưởng nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám thiên hẳn về thân phận của những người nông dân thấpcổ bé họng. Ông đồng cảm đến lạ lùng với những thân phận con người thấp hèn trong xã hội. Những nhân vật của NamCao phần lớn đều là những người lương thiện, nhưng do không đủ sức đề kháng trước những cạm bẫy của chế độ xã hộinên họ dần bị biến chất và tha hóa. Tiêu biểu cho những nhân vật như thế là anh cu Lộ trong Tư Cách Mõ. Anh vốn đượcsinh ra trong gia đình quan viên tử tế. Anh sống rất tử tế, hiền lành, không cờ bạc rượu chè nên được mọi người yêumến. Anh cu Lộ hiền như đất. Cờ bạc không, rượu chè không, anh chỉ chăm chắm, chui chúi làm để nuôi vợ, nuôi con.Mặc dù gia đình nghèo khó nhưng anh tịnh không táy máy tay chân, trộm cắp đồ hàng xóm cho dù nó có bày ra trướcmắt. Nhưng túng thì túng thật, mà bụng dạ anh ta khá. Anh chỉ làm mà ăn với nuôi vợ, nuôi con, chứ không hề ăn trộm,ăn cắp của ai. Cái sự túng làm liều, anh tịnh là không có. Nhà hàng xóm có con gà, con vịt chạy sang, hoặc buồng chuối,quả mít liền kề ngay với giậu nhà anh, anh cũng mặc thây, không hề có cái tính tắt ma, tắt mắt. Nói cho phải thì anh cuLộ ăn ở phân minh lắm. Bởi vậy kẻ trên, người dưới, hàng xóm láng giềng ai cũng mến. Hiền đến thế, sống thanh bạchđến thế thì thôi! Nhưng cuộc sống không ai nói trước được điều gì. Anh cu Lộ từ một anh nông dân chất phác, hiền lànhbỗng trở thành một anh mõ tham lam đê tiện, điều đó tại nơi lòng người nham hiểm, tục lệ xã hội thối nát mà ra.
Lộ trình từ một anh nông dân lương thiện trở thành một tên mõ tham lam của anh cu Lộ được bắt đầu từ câu chuyện củahọ đạo Lưu An. Họ đạo Lưu An có khoảng sáu mươi suất đinh thì đã có quá nữa là quan viên. Vì danh dự, sỉ diện chả aichịu làm mõ cả, (mõ là việc làm bị cho là thấp hèn vì phải đi mời mọi người khi có yến tiệc, họp hạt). Người bên lương,tất không ai chịu làm mõ cho bên đạo. Mà người bên đạo tất ai chịu làm mõ ngay trong họ mình? Nhưng cuối cùng họcũng giải quyết ổn thỏa bằng cách thay cách gọi tên mõ bằng lềnh. Có như thế mọi người mới chịu làm vì họ cho rằngkhông bị sỉ nhục. Nhưng một hôm trong họ đạo xảy ra một sự kiện, có một tên vô gia cư không biết từ đâu đến làm thuêcuốc mướn không may vợ mất. Vì anh ta không phải người họ đạo nên làng không chịu cho chôn vợ, anh ta nài nỉ vanxin mãi họ mới chấp nhận. Sau khi chôn cất vợ, anh ta được làng cho làm sãi để thay cho ngườilềnh.Mãi về sau khi người sãi qua đời, người trong đạo cùng với thời gian đã quên bẵng lệ lềnh ngày xưa. Đến lúc này họ mớisốt sắng tìm người thay thế, và ngưởi được nhắm đến là anh cu Lộ. Dựa vào nhược điểm của anh là nghèo khó, người tađã vẽ vời, bày ra những thứ lợi lộc để nhử anh. Lộ đến. Người ta kể tất cả những cái lợi lộc ra để nhử. Rồi người ta lại cốcắt nghĩa cho anh hiểu: làm sãi chẳng có gì là nhục, cũng là làm việc họ đấy thôi; ai cũng ngại không chịu đứng ra cángđáng, thì mình đứng ra cáng đáng giùm cho cả họ; có phải mình tham lợi, tự nhiên đem trầu cau đến xin làm đâu mà sợtiếng?…Không, thế này, anh cu a: giá anh cầu cạnh để làm thì còn có người nói được. Đằng này anh không cầu cạnh, chúng tôigọi anh đến, cho làm, thì việc gì anh không làm? Ấy là tất cả các cụ, cùng quan viên trên, quan viên dưới đều mến cáibụng anh hiền lành… Anh cứ làm.Vốn hiền lành, chất phác lại ít học, nghe những lời đường tiếng mật anh cu Lộ gật gù thích chí và đồng ý làm sãi. Ôi,người đời thật nham hiểm! Ai cũng muốn mình được hưởng những điều tốt đẹp và đùn đẩy những khó khăn, hèn hạ chongười khác. Họ cậy quyền, ỷ thế để chèn ép những người thua thiệt về địa vị, kinh tế. Anh cu Lộ chỉ vì nghèo cùng vớisự hiền lành đến khờ khạo của mình nên bị người khác lừa gạt gán ghép cho việc làm mà hầu hết mọi người đều né tránhvì cho là hèn hạ.Cuộc đời làm mõ của anh cu Lộ thăng tiến rất nhanh, cuộc sống của anh sung túc khắm khá hẳn lên. Và quả nhiên, hắnlàm được ít lâu thì nhà đỡ xo dụi hơn trước thật. Bởi vì hắn chăm chỉ lắm. mấy sào vườn họ cho, hắn cuốc xới rất kĩcàng. Hắn làm ngô, làm mía được mấy vụ tốt luôn. Tiền của họ cho, hắn bỏ ra lấy khô bã cho lợn ăn. Thói đời nghĩ cũnglạ, khi cần thì chẳng ai chịu làm đến khi người làm được thì tỏ ra tiếc nuối, ghen tị. Ông bà ta thường nói trâu cuộc ghéttrâu ănquả thật chẳng sai. Anh cu Lộ nhờ làm mõ mà khắm khá hẳn lên, nhưng cũng từ đó anh bị mọi người hiềm khíchghen tị. Bấy giờ những anh khác trông thấy thế mới sinh ra tiếc. Họ thấy Lộ làm sãi ngon ăn quá. Họ ngấm ngầm ghenvới hắn. Và chẳng người nào bảo người nào, họ vô tình về hùa với nhau để báo thù.Mọi người bắt đầu coi khinh Lộ, phân biệt đối xử, xem Lộ như một người hèn hạ không xứng đáng được giao tiếp với
họ.Trong những cuộc hội họp, nếu hắn có vui miệng nói chõ vào một vài câu, nhiều người đã ra vẻ khinh khỉnh, khôngthèm bắt chuyện…Sự rẻ khinh, lạnh nhạt của mọi người đối với anh cu Lộ ngày một lớn thêm, điều đó vô hình chung đãtạo nên vết thương nơi tâm hồn Lộ, anh cảm thấy xấu hổ và mặc cảm trước hành động của mọi người. Ý định thoái tháctrách nhiêm nảy sinh trong đầu anh, nhưng anh vẫn cảm thấy tiếc cơ ngơi mình tạo dựng nên. Hắn thở ngắn, thở dài, lắmlúc hắn muốn bỏ phắt việc, trả lại vườn cho họ cho đỡ tức. nhưng nghỉ thì cũng tiếc. Hắn chăm cái vườn tốt lắm rồi. Đểthằng khác ăn, nó hoài đi. Hắn lại tặc lưỡi một cái, và nghĩ bụng: “Mặc chúng nó!…”.Hành động đó cho ta thấy anh cuLộ cũng là một người biết coi trọng liêm sỉ, biết thế nào là nhục là vinh. Tuy nhiên , sự rẻ rúng, miệt thị của mọi ngườidần làm cho tâm hồn anh chay san, tha hóa.Như để chống lại sự khinh bỉ, lạnh nhạt của mội người, anh cu Lộ dần trở nên đanh đá hơn, sắc cạnh hơn. Hắn tặc lưỡimột cái và nghĩ bụng: “Muốn nói, ông cho chúng mày nói chán! Ông cần gì!…” Sức chịu đựng của con người có giớihạn, tức nước vỡ bờ. Đến lúc này anh cu Lộ đã trở thành mõ chính hiệu, đúng với tư cách mõ. Hắn bắt đầu trả thù cho sựrẻ lạnh của mọi người bằng cách tham lam. Muốn báo thù lại những anh đã cười hắn trước, tự hắn đi bưng lấy cỗ, vàchọn lấy một cỗ thật to để các anh trông mà thèm.Từ đấy cuộc đời làm mõ của anh cu Lộ rẽ sang hướng khác, tiến bộ hơn, thành công hơn. A! Họ bảo hắn là mõ vậy!…Đã vậy thì hắn tham cho mà biết!… Từ đấy, không những hắn đòi cổ to, lúc ăn hắn còn đòi xin thêm xôi, thêm thịt, thêmcơm nữa. không đem lên cho hắn thì tự hắn xông vào chỗ làm cổ mà xúc lấy. Ăn hết bao nhiêu thì hết, còn hắn gói đemvề cho vợ con ăn, mà nếu vợ con ăn không hết, thì kho nấu để lại ăn hai, ba ngày… Hà hà! Phong lưu thật!… Cho chúngnó cứ cười khỏe đi!Ở cuối tác phẩm ta thấy có một phát ngôn mang tính triết lí của Nam Cao và phần nào cũng bộc lộ tư tưởng nghệ thuậtcủa nhà văn. Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh, trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm;nhiều người không biết gì là tự trọng, chỉ vì không được ai trọng cả; làm nhục người là một cách rất diệu để khiến ngườisinh đê tiện…Một phát biểu thể hiện tinh thần nhân văn, nhân bản sâu sắc của Nam Cao. Ông đã đúc kết được nguyên nhân dẫn đến sựtha hóa của Lộ nói riêng, và những người thấp cổ bé họng trong xã hội nói chung đó là vì không được ai coi trọngcả. Nam Cao đã chỉ ra rằng: lòng khinh, trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiềulắm. Với sự dày dạn, cùng những trải nghệm trong cuộc sống đã giúp Nam Cao nhìn thấu bản chất của vấn đề. Sự thahóa của anh cu Lộ không phải do bản chất của anh ta tạo nên mà do khách quan bên ngoài đưa đến. Cụ thể đó là sựxuống cấp trầm trọng của một bộ phận người trong xã hội đương thời, cùng với đó là những phong tục tập quán lỗi thời,
sự hạch sách, nhiễu nhương của bọn thực dân, địa chủ phong kiến.Việc tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của Nam Cao thông qua hai tác phẩm Một Bữa No và Tư Cách Mõ cho thấy ông lànhà văn nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc. Ông đồng cảm đến sâu sắc với những con người thuộc tầng lớp thấp hèn trong xãhội, đau cùng với nỗi đau của họ. Có thể nói hai nhân vật Người Bà và anh cu Lộ là đại diện tiêu biểu nhất cho tư tưởngnghệ thuật của Nam Cao đặc biệt là trước cách mạng tháng Tám. Đó là một tư tưởng nhân văn nhân đạo hướng về nhữngngười cùng khổ, những kiếp người bất hạnh trong xã hội.Đặng Công Đoãn


Xem thêm: Tụ Điện Là Gì? Cách Chọn Tụ Điện Cho Motor Và Xử Lý Những Lỗi Thường Gặp

Tài liệu liên quan


*
TƯ TUỞNG NGHỆ THUẬT CỦA THẠCH LAM 4 501 8
*
Tài liệu Một số đặc điểm trong tư duy tự sự của Nam Cao qua """"Chí Phèo"""" doc 11 641 5
*
*
Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao trong tác phẩm Chí phèo 2 2 16
*
Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao qua CHí Phèo pot 4 1 9
*
Trình bày Tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao - văn mẫu 1 725 0
*
Anh/ chị hãy nêu những nét chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám - văn mẫu 1 1 9